The best damn Avril site in VN
Chào mừng bạn đến với 4rum Avrilvn.com - The best damn Avril's Fansite in VN!

Bạn chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy bạn chỉ có thể xem các bài viết mà không thể gửi bài trả lời, đặt câu hỏi hoặc tham gia nhiều hoạt động khác trên diễn đàn.

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký ngay để được hưởng mọi quyền lợi của thành viên!

Chúc bạn một ngày tốt lành!

The best damn Avril site in VN


 
Trang ChínhTrang Chính  GalleryGallery  Trợ giúpTrợ giúp  Nội quy 4rum  Tìm kiếmTìm kiếm  Đăng kýĐăng ký  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng Nhập  

 

[Profile] Sự nghiệp của Avril Lavigne

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giả Thông điệp
Uchi_Avril
Active Fan
Active Fan
avatar

Tổng số bài gửi : 275
Age : 24
Đến từ : .....:::Where i'm belong:::.....
Nghề nghiệp hiện tại : Avril 's FC
Thanked : 0
Points : 11292
Ngày tham gia : 28/07/2007

Bài gửiTiêu đề: [Profile] Sự nghiệp của Avril Lavigne   Mon Jul 30, 2007 4:06 pm

I.Prolife của Avril Lavinge



1. Giới Thiệu Chung

Tên đầy đủ: Avril Ramona Lavigne
Tuổi: 23
Birthday: 27/9/1984

Nơi Avril chào đời: Belleville, Ontario, Canada
Hometown: Napanee, Ontario, Canada
Màu mắt: Blue-green
Màu tóc: vàng hoe

Chiều cao: 5'2
Cân nặng: 103 lbs

Size giày: 7

Khuyên tai: Có 2 lỗ bên tai trái, một bên tai fải và một ở "rốn"...
Hình xăm: Let go star trên cổ tay trái, "A D" in a heart trên cổ tay fải, tiny star ở bắp chân trái

2. Family

Brother: Matt Lavigne (23)
Sister: Michelle Lavigne (1
Mum: Judy Lavigne
Dad: John Lavigne
Con vật kưng: Sam a miniature Shnauzer
Husband: Deryck Whibley trong nhóm Rock Sum41

3. Favourites

Favorite Holiday: Christmas
Favorite Animal: Koala (gấu túi)
Favorite Game: Uno
Fave food: Pizza from La Pizzeria in Napanee and smoothies
Fave candy: Pixi Stix, Sour Keys
Fave sodas: Coke, grape and root beer
Fave colours: Red and black
Fave style of music: Rock
Fave bands: Sum 41, Green Day, The Used, Nirvana and lots of others
Fave letters: A and S
Fave sports: khúc côn cầu , bóng đá và bóng rổ
Fave clothes: Dickies and Kitschy tees
Fave shoes: Osiris and Converse
Fave song from Let Go: Losing Grip
Fave song from Under My Skin: Take Me Away and Together

4. Other Facts

- Avril được Chantal Kreviatzuk tặng một chiếc túi hãng Louie Vuitton

- Avril thích mút ngón chân

- Avril thường đi săn với brother khi còn bé

- Avril đã có thể là một mật thám khi chưa nổi tiếng

- Avril thuộc tín đồ cơ đốc giáo

- Avril đã dành chiến thắng trong cuộc thi radio và đã được bước lên sân khấu hát cùng Shania Twain.

- Avril lần đâu tiên hát solo là ở nhà thờ khi mới 10 tuổi, đó là ca khúc "Near the Heart of God".

- Avril đã từng làm việc ở Mary Brown's Chicken.

- Avril đã từng fải lòng anh chàng Tom trong Blink 182

- Michelle Lavigne (em gái) đã xuất hiện trong video Sk8er Boi đấy.

- Avril bắt đầu chơi skateboard từ năm 10tuổi

- Avril là thành viên của đội hockey năm 12 tuổi .

- Avril có được hợp đồng ghi đĩa đầu tiên năm 16 tuổi

- Mỗi khi thấy chán sis nhà ta thik đọc sách hoặc khò khò..

- Avril thik chơi video games.

- Avril dị ứng với bọn ong đấy.

- Avril ko thể đồ ăn có nhiều gia vị, vì nó làm Avril bị ợ chua.

- Avril kết hôn với Deryck Whibley vào ngày 15/7/2006 và đã tổ chức một buổi lễ đậm tính truyền thống tại California

From Avril's blog

II. Tóm tắt sự nghiệp của Avril Lavinge

Sinh ra ở Belleville, Ontario trong 1 gia đình bảo thủ theo đạo Franco-Ontarian Catholic (bố mẹ cô là John và Judy Lavigne), Lavigne đã lớn lên ở Napanee, hát nhạc country và tham gia ca đoàn nhà thờ, đồng thời tự học chơi guitar. Phiên âm tên thuờng đuợc gọi của cô theo kiểu Ănglê là /ˈævrəl ləˈviːn/ dù nó có nguồn gốc từ Pháp. Cô đuợc khám phá bởi quản lý chuyên nghiệp đầu tiên của cô lúc đang hát những bài nhạc country covers tại 1 nhà sách thuộc nhà thờ ở Kingston, Ontario. Khi đuợc 16 tuổi, cô đuợc ký hợp đồng với hãng dĩa Arista Records thông qua đại diện A&R Ken Krongard, nguời đã mời sếp L.A. Reid lắng nghe cô hát tại 1 studio ở New York. Và kể từ đó cô bắt đầu thu âm và cả 2 albums cho đến hiện nay đều đã đứng đầu các bảng xếp hạng trên toàn thế giới.

Phong Cách Âm Nhạc

Trên trang thông tin MySpace của mình, Avril khẳng định rằng thể loại
âm nhạc của cô ấy là Pop/Punk/Rock. Nhưng tạp chí All Music Guide và
một số nhà phê bình khác cho rằng phong cách âm nhạc của cô ấy là:
"Punk, Punk-pop, Pop/Rock, Alternative Rock, Alternative Pop-Rock,
Modern Rock và Post-Grunge". Tuy nhiên Avril thường phát biểu rằng cô
không phải là một ca sĩ hát nhạc Punk và cô cũng không muốn bị ràng
buộc như vậy. Lavigne đã tỏ thái độ tức giận khi có người xem cô như
một "Sk8er Punk". Quê hương của Avril là nơi khởi nguồn của nhiều ban
nhóm hát nhạc punk (chẳng hạn như Sid Vicious), nhưng âm nhạc của cô ấy
chỉ chịu ảnh hưởng một phần của thể loại punk năm 1970.


Được sửa bởi vit_quay_9x ngày Fri Jul 10, 2009 1:17 am; sửa lần 4. (Reason for editing : yummy edit)
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://uchi.good.to
vit_quay_9x
Mod
Mod
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 233
Age : 27
Đến từ : Hà Nội
Nghề nghiệp hiện tại : Student
Tâm trạng : Cười tít mắt :D
Thú cưng :
Thanked : 8
Points : 10112
Ngày tham gia : 14/04/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: [Profile] Sự nghiệp của Avril Lavigne   Fri Jul 10, 2009 12:39 am

Let Go — Buớc đột phá trong sự nghiệp



Sự thật là, những cố gắng đồng sáng tác ca khúc lúc đầu đã không làm cô
vừa ý, và rốt cục là cô đã phải dời về Los Angeles, California và cùng
sáng tác album của cô với Clif Magness và đội viết nhạc The Matrix,
những nguời đã từng viết nhiều bài hát truớc đó cho Sheena Easton và
Christina Aguilera. Album đầu tay của cô, Let Go, đã đuợc phát hành bởi
Arista vào ngày 4 tháng 6, 2002, và đuợc công nhận "Quadruple Platinum"
(4 bạch kim) bởi Hiệp Hội Công Nghệ Ghi Âm Hoa Kỳ khi chưa đến 6 tháng
tung ra. Cô đuợc nhận giải "Best New Artist" tại 2002 MTV Video Music Awards và tại giải 2003 Juno Awards, nơi mà cô có đuợc đến 6 đề cử, đã quay về với 4 Junos trong tay. Cô cũng đã đuợc đề cử 8 Grammys nhưng cho đến nay vẫn chưa thắng 1 giải nào cả.

Cho đến tháng 12, 2004, Let Go đã bán đuợc 15 triệu bản và đạt đuợc
hạng 1 ở Úc, Canada, và Anh Quốc (Tại thời điểm đó, Lavigne là nghệ sĩ
solo nữ trẻ tuổi nhất từng giành đc #1 album ở bảng xếp hạng UK, tuy
nhiên kỷ lục đó bây giờ đuợc giữ bởi Joss Stone). Let Go đã leo đến vị
trí cao nhất là #2 tại Mỹ.

Có ý kiến cho rằng cô là ca sĩ Canada trẻ tuổi nhất từng bán đuợc hàng
triệu dĩa tại quê nhà; tuy nhiên thực ra kỷ lục ấy thuộc về ca sĩ quê
Ottawa, Paul Anka. Single của anh, "Diana", đã đuợc ghi âm khi anh chỉ
mới 16, và vẫn là single bán chạy nhất trong lịch sử Canada.

Let Go là album sản xuất ra 4 hit singles (3 bài đầu tiên là cộng tác vớithe Matrix), tại nhiều nuớc trên thế giới:

* "Complicated" đã tiến đến #1 trên U.S. adult charts và Úc, cùng với #2 trên Billboard Hot 100;
* "Sk8er Boi" lọt vào top ten tại Mỹ và Úc và đạt #1 ở Canada;
* "I'm with You"
vuơn đến #1 ở các bảng xếp hạng adult charts của Mỹ và thế giới (đuợc
tính dựa trên số liệu của Mỹ, Anh, Canada, Đức, Pháp, và Úc), và hạng 4
tại Billboard Hot 100;
* "Losing Grip" leo lên #2 ở Canada, hạng 10 ở Đài Loan, #20 ở Chile, và top fifty của bảng xếp hạng Âu châu tổng hợp.

"Weird Al" Yankovic từng làm 1 bài hát chế từ
"Complicated" trong album Poodle Hat của ông với tựa đề "A Complicated
Song" — 1 dấu hiệu rõ về sự dấu ấn của cô trong văn hoá đuơng đại.

Giới truyền thông vẫn thuờng so sánh cô với Alanis Morissette,
mặc dù cô bị phê bình là không viết đuợc những ca từ mạnh mẽ như
Morissette lúc ở cùng trang lứa. Cô cũng thuờng đuợc so sánh với những
ca sĩ như Vanessa Carlton và Michelle Branch, những nguời đã
khởi nghiệp gần với cô và cùng với Lavigne, đuợc giới nghe nhạc ca tụng
như là 1 phần của xu huớng mới, thành khẩn và nguyên chất hơn là chất
nhạc pop trống rỗng và giả tạo truớc đó.

Mặc dù đuợc tiếp thị với 1 hình ảnh rất sành điệu, như là đối thủ của Britney Spears
hay 1 vài nguời khác, tuy nhiên 1 số nguời đã tìm đuợc lý lịch thật của
cô, và tính cách của cô thì ko giống như những gì mà nguời ta đã
'market' về cô tí nào cả; dạng như 1 cô gái 16 tuổi ngây thơ và mong
muốn đuợc mua CD Ramones đầu tiên của mình. Trong 1 cuộc phỏng vấn
khác, cô đã liệt kê gu nhạc của mình, bao gồm Blink 182, Sum 41, và
System of a Down. Lavigne hiện nay đã đính hôn với Deryck Whibley của
Sum 41 và thuê cựu thành viên của nhóm Mark Spicoluk làm 1 thành viên
trong band của cô.

Cô tự miêu tả album đầu tay của mình là 1 pop album với "1 vài bài nhạc
rock bên trong", và nói đến mong muốn sẽ viết thêm nhiều bài xu huớng
rock hơn trong tuơng lai.


* 2002: Let Go — #1 CAN; #1 U.S.; #1 UK; #1 AUS; #1 MEX — Worldwide sales: 15 triệu, United States sales: 6.4 triệu
RIAA Certification: 6x Platinum (6,000,000 Units)
CRIA Certification:10x Platinum (1,000,000 Units)
ARIA Certification: 7x Platinum (4,900,000 Units)


o 2002: "Complicated"



#1 CAN (3 weeks); #2 U.S.; #3 UK; #1 AUS (4 weeks); #1 MEX (5 weeks)


o 2002: "Sk8er Boi"


#1 CAN (3 weeks); #10 U.S.; #8 UK; #3 AUS; #5 MEX


o 2002: "I'm With You"



#1 CAN (2 weeks); #4 U.S.; #7 UK; #1 MEX (3 weeks)


o 2003: "Losing Grip"



#1 CAN (2 weeks); #64 U.S.; #22 UK; #20 AUS; #14 MEX


o 2003: "Mobile"
Australian radio release only


Awards And Nominations

Let Go

2002

MTV Music Video Award
New Artist in a Video for Complicated – Won. [1]

MTV Music Video Award Latin
Best International New Artist – Won. [2]

World Music Awards
Best Canadian Pop/Rock Artist – Won.[3]

Grammy Awards
Song of the Year: Complicated – Nominated.
Best Female Pop Vocal Performance: Complicated – Nominated.
Best Pop Vocal Album: Let Go – Nominated.
Best Rock Vocal Performance - Female: Sk8er Boi – Nominated.
Best New Artist – Nominated.


2003

Juno Awards
Best Single: Complicated – Won.
Best New Artist – Won.
Best Pop Album: Let Go – Won.
Best Album of the Year: Let Go – Won.[5]

Grammy Awards
Best Female Pop Vocal Performance – Nominated.
Song of the Year - Songwriter: I'm With You (with The Matrix) – Nominated.
Best Rock Vocal Performance Female: Losing Grip – Nominated.

American Music Awards
Favorite Pop/Rock Female Artist – Nominated.

Robbey translate from wikipedia. All materials are copyrighted. Please do not use without permission

_________________




Được sửa bởi vit_quay_9x ngày Fri Jul 10, 2009 1:15 am; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/vit_quay_bac_kinh_9x
vit_quay_9x
Mod
Mod
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 233
Age : 27
Đến từ : Hà Nội
Nghề nghiệp hiện tại : Student
Tâm trạng : Cười tít mắt :D
Thú cưng :
Thanked : 8
Points : 10112
Ngày tham gia : 14/04/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: [Profile] Sự nghiệp của Avril Lavigne   Fri Jul 10, 2009 12:47 am

Under My Skin




Avril viết đa số các bài hát trong album thứ 2 của mình, Under My
Skin, cùng với ca sĩ tực sáng tác nguời Canada khác, Chantal Kreviazuk.
Cô cũng đồng sáng tác track "Nobody's Home" với Ben Moody, cựu thành
viên của Evanescence, và những bài còn lại với tay guitar chính truớc
đó của cô, Evan Taubenfeld. Lavigne sử dụng 3 nguời sản xuất cho Under
My Skin: Butch Walker của Marvelous 3, Raine Maida của Our Lady Peace
(đồng thời là chồng của Kreviazuk), và Don Gilmore, nguời đã từng sản
xuất nhạc cho Good Charlotte và Linkin Park.

Under My Skin đuợc phát hành vào ngày 25 tháng 5, 2004 và tiến thẳng
vào vị trí đầu bảng nhiều nơi trên thế giới, đáng chú ý là ở Anh, Mỹ,
Canada, và Úc, cùng với Billboard Internet charts. Single đầu tay, "Don't Tell Me",
đã đuợc phát hành sớm vào tháng 4, 2004, và đã đạt #1 ở Argentina, top
5 ở Anh và Canada, và top 10 ở Úc, Brazil, và bảng xếp hạng Châu Âu.

Single thứ 2, "My Happy Ending", leo đến #9 ở Billboard
Hot 100, trở thành hit lớn thứ 3 của cô cho đến hiện nay. Cô quay video
này tại khu hàng xóm của diễn viên/ca sĩ Eric West. Single thứ 3, "Nobody's Home",
chỉ có thể tiến đến #41 của Billboard Hot 100, tuy nhiên do sự chấp
nhận của fans và thính giả nói chung, nó có thể đuợc coi là 1 hit.

Single #4 của Under My Skin, "He Wasn't", đạt quán quân
tại Canada, và bài hát trở thành #1 thứ 8 của cô tại đây kể từ single
"Complicated". Tuy nhiên, single này lại rất yếu ở Anh khi nó chỉ đạt
đến #23. Bài hát không đuợc phát hành tại Mỹ.

Lavigne đã chiến thắng World Music Award vào năm 2004 cho nghệ sĩ pop/rock đuợc yêu thích nhất, và 1 lần nữa dẫn đầu đề cử 2005 Juno Awards (5 đề cử), nhận đuợc 3 giải, cộng với 4 năm truớc đó là 7 Junos cho đến nay.


* 2004: Under My Skin — #1 CAN; #1 U.S.; #1 UK; #1 AUS; #1 MEX — Worldwide sales: 9 triệu, United States sales: hơn 3 triệu

RIAA Certification: 3x Platinum (3,000,000 Units)
CRIA Certification: 3x Platinum (300,000 Units)
RIAJ Certification: 4x Platinum (1,000,000 Units)


o 2004: "Don't Tell Me"



#1 CAN (1 week); #22 U.S.; #5 UK; #10 AUS; #4 MEX


o 2004: "My Happy Ending"



#1 CAN (2 weeks); #9 U.S.; #5 UK; #6 AUS; #1 MEX (2 weeks)


o 2004: "Nobody's Home"



#1 CAN (2 weeks); #41 U.S.; #24 UK; #24 AUS; #4 MEX


o 2005: "He Wasn't"


#1 CAN (1 week); #23 UK; #24 MEX


o 2005: "Fall to Pieces"



North American radio release only


o 2005: "Take Me Away"
Australian radio release only


Robbey translate from wikipedia. All materials are copyrighted. Please do not use without permission


Awards And Nominations

Under My Skin


2004

World Music Awards
Best Pop/Rock Artist – Won.
World's Best Selling Canadian Artist – Won.[8]

MTV Video Music Awards Latin America
Best International Pop Artist – Won.

Nickelodeon Kids' Choice Awards
Favourite Female Singer – Won

MTV Video Music Awards
Best Pop Video: Don't Tell Me – Nominated

American Music Awards
Favorite Pop/Rock Female Artist – Nominated

Juno Awards
Music DVD of the Year – Nominated.
Juno Fan Choice Award – Nominated.


2005

Juno Awards
Artist of the Year – Won.
Pop Album of the Year: Under My Skin – Won.
Fan's Choice Award – Won.
Songwriter of the Year – Nominated.
Album of the Year – Nominated.

_________________




Được sửa bởi vit_quay_9x ngày Fri Jul 10, 2009 1:12 am; sửa lần 2.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/vit_quay_bac_kinh_9x
vit_quay_9x
Mod
Mod
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 233
Age : 27
Đến từ : Hà Nội
Nghề nghiệp hiện tại : Student
Tâm trạng : Cười tít mắt :D
Thú cưng :
Thanked : 8
Points : 10112
Ngày tham gia : 14/04/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: [Profile] Sự nghiệp của Avril Lavigne   Fri Jul 10, 2009 12:50 am

The Best Damn Thing



The Best Damn Thing là album thứ 3 của Avril Lavigne. Album này
được phát hành vào 17 tháng 4 năm 2007 tại Bắc Mỹ và châu Âu, ngày 14
tháng 4 năm 2007 tại Anh và Úc. Trong tuần phát hành đầu tiên The Best Damn Thing
đã bán được gần 781.000 bản trên toàn cầu, đạt quán quân 2 tuần liên
tiếp trên US Billboard Hot 200 album của Mĩ và ở nhiều quốc gia khác.
Album này đã được trao tặng 1 đĩa bạch kim tại Mĩ, 2 đĩa bạch kim của
United World Chart... Tính đến cuối tháng 10 năm 2008 album đã bán được
6 triệu bản trên toàn thế giới.

Các ca khúc trong The Best Damn Thing đều là những sáng
tác của Avril cùng nhà sản xuất Dr. Luke. Avril đã tạo ra một phong
cách hoàn toàn mới trong album thứ ba này: vui nhộn, nhanh, trẻ trung,
quyến rũ vừa không kém phần mạnh mẽ.

"Gilfriend'" là đĩa đơn đầu tiên và cũng là đĩa đơn thành công
nhất trong sự nghiệp của Avril khi vươn tới vị trí quán quân và nằm
trên top 10 của US Billboard Hot 100 trong suốt 18 tuần liền. Đĩa đơn
này cũng dành được vị trí đẫn đầu trên các bảng xếp hạng ở Úc, Canada,
Nhật Bản... Và vị trí thứ 2 trên Uk Single Chart.

Đĩa đơn thứ hai là "When You're Gone",đây là một bản Pop/balad rất nhẹ nhàng và tình cảm. When You're Gone
rất thành công ở Anh, Canada, Úc, Nhật Bản...khi đều lọt vào top 10
trên các bảng xếp hạng ở đây, tuy nhiên nó chỉ có thể leo lên vị trí 24
trên US Billboard Hot 100 của Mĩ .

Đĩa đơn thứ ba là "Hot", đĩa
đơn này khá thành công ở Canada và Úc nhưng lại thất bại ở thị trường
Mĩ và Châu Âu.

Tháng 4 năm 2008, Avril tiếp tục cho ra đĩa đơn thứ 4
mang tên The Best Damn Thing, một ca khúc pop/punk sôi dộng và mang hơi hướng của Girlfriend.

"Innocence" là single thứ 5 và cuối cùng của The Best Damn Thing,
được viết bởi Lavigne và Evan Taubenfeld. Nó được phát hành duy nhất ở
Italia. Mặc dù vậy trên Canadian Hot 100 "Innocence" vẫn đạt vị trí
#59, #11 ở Ukraine Singles Chart, và #16 U.S. Billboard Bubbling Under
Hot 100 . "Innocence" cũng là single thứ ba của Avril không có video
clip sau Take Me AwayFall To Pieces

Mặc dù một số fans trung thành không chấp nhận sự thay đổi hình ảnh của
Avril trong album nhưng đây có thể được xem là album thành công cả về
giải thưởng và thương mại.









Thành tích của The Best Damn Thing

Australian ARIA Albums Chart #2
Austrian Albums Chart #1
Belgium Albums Top 50 #9
Canadian Albums Chart #1
Denmark Albums Top 40 #5
Dutch Albums Top 100 #8
Finland Albums Top 40 #8
France Albums Top 150 #3
Germany Albums Top 100 #1
Greek IFPI Albums Chart #1
Irish Albums Chart #1
Italian Albums Chart #1
Japanese Oricon Albums Chart #1
Mexican Top 100 Albums Chart #3
Mexican Top 20 International Albums Chart #1
Netherlands Albums Chart #1
New Zealand Albums Top 40 #2
Norway Albums Top 40 #18
Portugal Albums Top 30 #9
Spain Albums Chart #2
Sweden Albums Top 60 #6
Switzerland Hit parade Top 100 Album #1
UK Albums Chart #1
U.S. Billboard 200 #1

vị trí cao nhất tại các bảng xếp hạng single

Girlfriend



Argentinian Singles Chart #2
Australian ARIA Singles Chart #1
Ö3 Austria Top 40 #1
Bulgarian Top #1
Brazil Hot 100 #2
Canadian BDS Airplay Chart #3
Canadian Hot 100 Singles Chart #1
Chile Top 100 Airplay Chart #4
Croatian Hot 50 #1
Czech Singles Chart #4
Dutch Tipparade #1
European Singles Chart #1
French Singles Chart #2
German Singles Chart #3
Brazilian Hot 100 Singles & Tracks #2
Irish Singles Chart #1
Israeli Singles Chart #1
Italian Singles Chart #1
Ibero-America Singles Chart #2
Latin American Airplay Chart #2
Mexican Top 100 Singles Chart #2
New Zealand RIANZ Singles Chart #1
Peruvian Top 100 Singles Chart #2
Polish National Top 50 #1
Los 40 Principales Spain #8
Swedish Singles Chart #1
UK Singles Chart #2
U.S. Billboard Hot 100 #1
U.S. Billboard Pop 100 #1
Venezuelan Singles Chart #1


When You're Gone



Argentinian Singles Chart #1
Australian ARIA Singles Chart #4
Austrian Singles Chart #10
Belgian Ultratop 50 (Flanders) #36
Canadian Hot 100 #8
Chilean Singles Chart #3
Czech Airplay Chart #3
Danish Single Chart #13
Finland Top 20 Chart #10
Germany Singles Top 100 #17
Irish Singles Chart #4
Italian Singles Chart #4
México Top 100 Single Chart #65
New Zealand Top 40 #26
Paraguay Singles Chart #4
Portugal Singles Top 50 #1
Russian Airplay Top 100 #62
Spain Singles Chart #11
Sweden Official Chart #8
UK Singles Chart #3
U.S. Billboard Hot 100 #24
U.S. Billboard Pop 100 #16
U.S. Billboard Hot Digital Songs #17
Venezuelan Singles Chart #2


Hot



Australian ARIA Singles Chart #14
Austrian Singles Chart #17
Canadian Hot 100 #10
Chilean Singles Chart #33
Dutch Tipparade #15
Germany Singles Top 100 #26
Irish Singles Chart #19
Israeli Singles Chart #3
México Top 100 #32
New Zealand RIANZ Singles Chart #30
Peruvian Singles Chart #86
Russian Airplay Top 100 #40
Sweden Singles Chart #53
Switzerland Singles Chart #61
Turkish Top 20 Chart #8
UK Singles Chart #30
U.S Billboard Hot 100 #95
U.S Billboard Pop 100 #64


The Best Damn Thing



Argentinian Singles Chart #10
Austrian Singles Chart #51
Canadian Hot 100 #76
Czech Republic Airplay #84
German Top 100 #64
U.S. Billboard Bubbling Under Hot 100 Singles #7
U.S. Billboard Pop 100 #91


Innocence
(Italia radio release only)

Canadian Hot 100 #59
Ukraine Singles Chart #11
U.S. Billboard Bubbling Under Hot 100 #16

_________________




Được sửa bởi vit_quay_9x ngày Thu Oct 15, 2009 6:47 pm; sửa lần 4.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/vit_quay_bac_kinh_9x
vit_quay_9x
Mod
Mod
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 233
Age : 27
Đến từ : Hà Nội
Nghề nghiệp hiện tại : Student
Tâm trạng : Cười tít mắt :D
Thú cưng :
Thanked : 8
Points : 10112
Ngày tham gia : 14/04/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: [Profile] Sự nghiệp của Avril Lavigne   Fri Jul 10, 2009 12:52 am

Personal life and trivia

* Lavigne đã trở thành nạn nhân của chuơng trình Punk'd khi Ashton
Kutcher và đồng hành của cô làm cô tin rằng mình đã phá hỏng xe hơi và
xe gắn máy.

* Lavigne có hình ngôi sao xăm ở bề mặt trong của cổ tay trái, và bạn
đồng nghiệp của cô là Ben Moody cũng có 1 cái hệt như thế. Cuối năm
2004, cô đã xăm 1 hình trái tim màu hồng có chữ 'D' ở cổ tay phải —
đuợc cho rằng ngụ ý nói đến bạn trai Deryck Whibley.

* Cô đã công nhận với Rollingstone.com là cô đã từng tham gia đánh
nhau. "Vào đêm kia, tôi đã tham gia 3 cuộc đánh nhau", Lavigne nói.
"Tôi đang ở trong club và cô gái kia cứ luờm tôi. Cô ta cố tình đẩy tôi
và thế là tôi cho cô ấy đo sàn. Bảo vệ đến, và tôi đang thắng thế, vậy
là họ ném tôi ra ngoài."

* Lavigne đã từng lưu diễn với 1 cái túi rất nhiều cà vạt. 1 vài trong
số đó cô ấy mua, nhưng những cái còn lại là lấy từ bố cô.
* Lavigne ngưng ko mang cà vạt nữa vào năm 2003, bởi vì cô hoảng sợ
rằng truyền thông bấy giờ đang chú ý đến chúng hơn âm nhạc của cô và cô
đã tạo cái xu huớng thời trang ấy trong cộng đồng fans của cô.

* Avril Lavigne đã phá kỷ lục bởi Madonna. Bài hát "Complicated" của cô
tại hạng 1 trên the Contemporary Hit Radio chart (đuợc tính cho air
play trên radio) suốt 11 tuần liên tiếp. Madonna truớc đó đã đạt kỷ lục
cho "Music", với hạng 1 10 tuần.

* Cái quần mà Lavigne mặc trong "Complicated" là giống cái cô mặc trong video "Losing Grip".

* Xu huớng thời trang "skater chick" của cô đuợc bắt chuớc nhiều nhất vào năm 2002.

* Vào tháng 3, 2004, cô đã dính vào 1 cuộc chiến các vì sao với Hilary
Duff: Duff đã chỉ trích Lavigne sau khi Avril có vẻ nổi giận khi fans
ăn mặc giống cô ta. Duff gọi cô là "tinh thần kém" và nói: "Lẽ ra bạn
nên hạnh phúc khi họ mến bạn và nguỡng mộ bạn." Trong 1 buổi phỏng vấn
cho đài phát thanh Boston, Lavigne đã gọi Duff là "bám váy mẹ" và "giả
bộ ngoan hiền". Sau đó cô ta nói với Duff (ko có mặt trong interview
ấy), "You can go screw yourself" (Cô tự đi ấy mình đi lol). Trong 1 lần
khác, Lavigne cũng nói về Duff như sau, "Tôi chắc rằng cô ta rất tốt và
ngọt ngào. Tôi chắc rằng lúc nào cô ấy cũng cuời tuơi." Tại cùng buổi
phỏng vấn ấy, cô đã thấy 1 bức ảnh của chính mình và xé rách nó, dị ứng
nói, "I hate that fucking photo!" Và tất cả những điều này đều đuợc
phát sóng.

* "Complicated" là 1 trong những singles bán chạy nhất tại Canada vào năm 2002.

* Lavigne đã từng lọt vào FHM 100 Sexiest Women in the World 2003, 2004, và 2005.

* Vào năm 2003, có tin rằng Lavigne đã hẹn hò với band member Jesse Colburn.

* "Nobody's Home" là video yêu thích nhất của Lavigne cho đến nay.
* Hiện nay cô đã đính hôn với Deryck Whibley trong pop punk band Sum
41. Cô cũng đã mua 1 căn nhà với anh ở Beverly Hills. Whibley gần đây
đã nói rằng anh sẽ kết hôn với Lavigne; tin tức gần đây cũng cho biết
cả 2 sẽ dời về Toronto, Canada, để cả 2 đuợc gần gũi nhau hơn.
* Tên thân mật của cô là Avie.

* Cũng như những nghệ sĩ nữ trẻ khác, Lavigne từng xuất hiện trên nhiều bìa tạp chí.

* Cô từng thú nhận chưa từng nghe qua Sex Pistols (ban nhạc punk rock đại thụ) bao giờ cả.

* "Đừng mong đợi album mới phát hành sớm. Tôi sẽ đi tour, từ tốn với
thời gian, ở bên cạnh nguời yêu của tôi và sống tốt — sau đó mới trở
lại làm việc." (nói về việc nghỉ ngơi trong phone interview với
Newsday).

* Avril lần cuối xuất hiện, với 1 hình tuợng mới, trong chuơng trình
Jay Leno vào ngày 31 tháng 8, 2005. Cô đã trình diễn "He Wasn't".



Sự Nghiệp Điện Ảnh



Năm 2006 Avril được mời lồng tiếng cho bộ phim hoạt hình "Over The
Hedge", với cốt truyện được xây dựng từ một bộ truyện tranh nổi tiếng
cùng tên. Trong phim này Avril đã tham gia làm việc với nhiều diễn viên
nổi tiếng như: William Shatner, Bruce Willis, Garry Shandling, Wanda
Sykes, Nick Nolte và Steve Carell. Năm 2007, Avril được diễn xuất cùng
với Richard Gere trong bộ phim "The Flock", cô vào vai người bạn gái
của một tên tội phạm khả nghi. Và dự án điện ảnh thứ ba của Avril là
vào vai chính trong "Fast Food Nation", bộ phim có kịch bản dựa trên
một cuốn truyện yêu thích của cô ấy. Lavigne đã sáng tác và ghi âm
"Keep Holding On", bài hát đuợc chọn làm nhạc nền cho bộ phim "Eragon",
ca khúc này cũng được phát hành dưới dạng đĩa đơn và xuất hiện trong
album "The Best Damn Thing". Ngoài ra Avril còn xuất hiện trong phần
giữa của bộ phim truyền hình dài tập "Sabrina, the Teenage Witch", một
bộ phim rất được giới trẻ thế giới yêu thích, trong phim này Avril đã
xuất hiện tổng cộng 149 lần và trình diễn ca khúc "Sk8er Boi" cùng với
các thành viên trong ban nhạc của mình.


Robbey translate from wikipedia. All materials are copyrighted. Please do not use without permission

_________________


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/vit_quay_bac_kinh_9x
vit_quay_9x
Mod
Mod
avatar

Nam
Tổng số bài gửi : 233
Age : 27
Đến từ : Hà Nội
Nghề nghiệp hiện tại : Student
Tâm trạng : Cười tít mắt :D
Thú cưng :
Thanked : 8
Points : 10112
Ngày tham gia : 14/04/2009

Bài gửiTiêu đề: Re: [Profile] Sự nghiệp của Avril Lavigne   Wed Aug 12, 2009 9:46 am

Abbey Dawn
Thương hiệu rock-chic của Avril Lavigne



Avril Lavigne đã hợp tác với hãng
thời trang Kohl’s để cho ra đời những trang phục rock-chick mang phong
cách của Abbey Dawn - nickname hồi nhỏ của Avril. Với một loạt trang
phục nữ tính, quyến rũ mà cá tính nhằm vào các bạn nữ năng động trong
mùa tựu trường.

Avril cho biết: “Sản phẩm của tôi phần lớn là gam hồng, đen, tím
và hoa văn ngôi sao, da ngựa... Đó là những gam màu rất rock, vui nhộn,
trẻ trung và cá tính. Chúng đơn giản là những trang phục tôi mặc hàng
ngày hay đi diễn.” Trang phục của Abbey Dawn có giá từ 24-48$.





Áo phông, áo nỉ, ba lỗ và hoodies
T-shirt, pull, ba lỗ và
áo khoác… - những chiếc áo tinh nghịch đã gắn bó với Avril từ khi mới
nổi tiếng, do đó chúng là mặt hàng phổ biến nhất của Abbey Dawn. Style
của Avril thiên về sự năng động, thoải mái nên chất liệu của áo thường
là cotton hoặc nỉ.
Áo Abbey Dawn có bốn màu chủ đạo đó là hồng, đe, trắng, tím. Hình vẽ
trên áo được chính tay Avril phác thảo, thiết kế nên chúng mang phong
cách của một rock-chick, ngổ ngáo và tinh nghịch.








Áo ba lỗ được Avril diện cả trong ngày thường và những show diễn
của mình. Kể cả trong mùa lạnh, chúng cũng có thể lót trong một cách
rất thời trang, do đó áo ba lỗ của Abbey Dawn thường có màu sắc nổi
bật, thể hiện phong cách nữ tính, quyến rũ của Avril trong thời gian
gần đây.






Sở hữu hàng ngàn chiếc áo áo khoác, Avril tự tin khẳng định rằng
chúng có thể kết hợp với bất cứ trang phục nào, từ những chiếc áo phông
đơn giản đến những bộ đầm dạ tiệc.




Chấm bi và kẻ vẫn là hoa văn rất được yêu thích.

Quần, váy
Là một rock-chick nổi loạn, gần đây Avril đã thay
đổi style quần thụng bằng những chiếc váy ngắn và quần skinny quyến rũ.
Những mặt hàng của Abbey Dawn đã thực sự thể hiện được con mắt thẩm mỹ
tinh tế.






Những chiếc váy Abbey Dawn được thiết kế đơn giản với những
đường nếp xếp, nhún điệu đà. Tông màu cũng rất thời trang và dễ mix đồ,
đặc biệt, chúng còn được trang trí thêm bằng chiếc thắt lưng nạm đinh
rất rock!






Quần skinny và quần ngố gắn bó với Avril mọi lúc mọi nơi. Chúng
giúp cho đôi chân của cô nàng trông thanh mảnh và dài thêm. “Tôi chắc
chắn rằng những khách hàng trong độ tuổi 20 sẽ yêu thích chúng bởi
chúng thật quyến rũ” – Avril chào hàng.







Trang sức, phụ kiện

Khó ai có thể quên những chiếc vòng tay lỉnh kỉnh, đa dạng sắc màu trên
cổ tay của những cô nàng rock-chick. Chúng thể hiện một nét phá cách
trong thời trang, kết hợp lộn xộn nhưng kết quả thật tuyệt vời. Bằng
những gam màu nổi bật nhưng hài hòa với nhau, Avril đã thiết kế ra
những bộ vòng cực kì xì tin. Bộ vòng được thiết kế có nhiều màu, size
và kiểu dáng đa dạng.






Vòng cổ cũng được bày bán tại Abbey Dawn với những khuôn
hình trái tim, ngôi sao... Không như các loại trang sức cao cấp khác,
trang sức của Abbey Dawn hướng tới mọi tầng lớp nên có giá cả phải
chăng. Những mẫu thiết kế dây móc hoặc dây dạng chùm khiến chúng trông
thật nổi bật trên chiếc cổ xinh xắn của bạn.







Khuyên tai
Với chủ yếu là những mẫu khuyên tai to
cùng hoạ tiết ngôi sao đã được Avril lấy làm logo cho mình từ những
ngày đầu khởi nghiệp (vì có hình dáng tương tự chữ A trong tên mình) do
đó, chúng đựơc sử dụng triệt để trong những đôi hoa tai Abbey Dawn. Tia
chớp, xương sống...cũng là những mẫu hoa tai cực kì độc đáo!






Source: kenh14.vn

_________________


Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://360.yahoo.com/vit_quay_bac_kinh_9x
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: [Profile] Sự nghiệp của Avril Lavigne   

Về Đầu Trang Go down

[Profile] Sự nghiệp của Avril Lavigne

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum: Bạn không có quyền trả lời bài viết
The best damn Avril site in VN :: _Avril Lavigne_ :: News về ..:Avril:.. -
Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | www.sosblogs.com